Hướng dẫn chi tiết kỹ thuật thủy canh (phần 1)

Khoa học thực vật: Kỹ thuật thủy canh được hiểu là kỹ thuật gieo trồng trong dung dịch không sử dụng đất hoặc chỉ sử dụng trong giai đoạn nhân giống.

Trồng ngập nước: hệ thống Gericke

Phát minh đầu tiên của Gericke là trồng rau kinh doanh không sử dụng đất, đã thu hút sự quan tâm của nhiều người trên thế giới, được thực hiện tại Trung tâm Thực nghiệm Nông nghiệp California. Điểm đặc trưng của trồng cây trong nước là cho rễ cây ngập hoàn toàn hoặc một phần trong dung dịch dinh dưỡng, có thể định kỳ thay thế hoặc tuần hoàn liên tục. Công bố đầu tiên của Gericke mô tả hệ thống máng trồng với chiều rộng xấp xỉ 0,6 m, sâu 15 cm và dài 10 m, lợp giấy dầu. Phía trên các máng chăng lưới thép phủ bạt, trong máng đổ cát dầy 1,3 cm. Máng có thể được làm bằng các vật liệu khác nhau như bêtông, thép, dược sơn phủ một lớp sơn không thấm nước, không có độc tố hoặc bàng gỗ đã được ngâm nóng trong dung dịch kiềm mạnh để loại bỏ các chất hữu cơ lạ. Luống gieo hạt sử dụng vật liệu nền như trấu, mùn cưa hoặc rong rêu, than bùn phủ lên trên. Ngoài ra, để cây non phát triển thì các luống gieo hạt phải được che ánh sáng nhằm tránh sự phát triển của tảo, tránh sự thay đổi bất thường của dung dịch cũng như để duy trì nhiệt độ thích hợp cho môi trường trồng cây.

Hệ thống Gericke đầu tiên đã được thử nghiệm kiểm tra ở một vài quốc gia và người ta đã tìm ra những điểm không phù hợp trong thực tế, nhất là vấn đề không đủ không khí trong dung dịch. Sau này Gericke đã đề xuất cải tiến hệ thống thủy canh trong đó có khoảng không giữa lớp nền và bề mặt dung dịch để tạo ra sự thoáng khí tăng sự phát triển của cây… Trong điều kiện dó cây trồng phát sinh hai loại rễ: rễ hấp thu phát triển trong dung dịch và rễ hút không khí trên bề mặt dung dịch. Qua thí nghiệm thấy xuất hiện những sự khác nhau về chức năng, quan sát hệ thống rễ trong màng dinh dưỡng thấy khác nhau về hình thái học. Trong không khí ẩm, rễ phát triển mạnh thành búi, còn dưới bề mặt dung dịch rễ phát triển chậm và ít hơn. Những công trình khác đã tìm cách khắc phục vấn đề thiếu không khí bằng cách tạo lưu thông dung dịch liên tục, kể cả biện pháp phun dung dịch.

Những cải tiến đó trong và thời gian gần đây đã được chấp nhẫn, khái niệm cơ bản ban đầu của Gericke đã có sự thay đổi. Tuy nhiên phương pháp trồng rau trong dung dịch nhằm mục dích kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn và tốn kém.

huong dan chi tiet ky thuat thuy canh phan 1
Hình 2.1. Sơ đồ mặt cắt ngang của hệ thống trồng ngập nước Gericke

a-bể đuợc xây dựng bằng bêtông cốt thép;b- khung kim loại dạng lưới để đỡ lớp đất trồng ở phiá trên dung dịch; c-dung dịch dinh duỡng; d- khoảng không giữa đáy của lớp đất và bề mặt dung dich dinh duỡng.

Năm 1972, Sholto Douglas đưa ra đề xuất vận hành thiết bị Gericke. Khi gieo hạt trên chất nền là rác thải, mức dung dịch trong bể được tăng lên đến gần đáy tấm lưới, như vậy cung cấp nước cho chất nền bằng mao dẫn. Khi rễ
đã vươn tới dung dịch thì mực nước nên thấp hơn để sao cho chỉ khoảng một nửa chiều dài của rễ ngập trong nước, do vậy làm tăng sự thoáng khí.
Hệ thống thủy canh của Gericke chưa cải tiến đôi khi vẫn còn sử dụng ở Ba Lan. Điều quan trọng là đảm bảo có khoảng không giữa lớp chất nền và dung dịch dinh dưỡng để tạo sự thoáng khí, vì vậy không cần phải tạo tuần hoàn dung dịch. Trên lưới thép (mắt lưới 4-5 mm) người ta bố trí lớp chất nền dày 10 cm đặt bên trên dung dịch. Chất nền phải được giữ ẩm thường xuyên cho đến khi rễ vươn tới dung dịch. Cần bổ sung thêm dung dịch, một phần qua chất nền và một phần trực tiếp vào bể.

Công nghệ trồng cây của Gericke được xem như là ví dụ trồng ngập nước, nó cũng có thể được xem là hệ thống kết hợp cả trồng nước và trồng trên chất nền. Do lưới được gắn cố định trên bề mặt dung dịch nên nền gieo hạt thường bằng rơm, than bùn hoặc đất. Withrow cùng cộng sự đã chỉ ra rằng, hệ thống rễ thứ hai thường phát triển trong lớp chất nền này. Went phân biệt giữa thủy canh (tức là hệ thống Gericke) và trồng cây dưới nước truyền thống và kết luận rằng, sự hình thành rễ trong luống gieo hạt của hệ thống Gericke là quan trọng đối với sự phát triển của cây cà chua.

Nguồn: https://khoahocthucvat.com/huong-dan-chi-tiet-ky-thuat-thuy-canh-phan-1/

Phát hiện mới trong cơ chế gây bệnh ở thực vật

Thực vật không thể sống thiếu nước. Khi trời mưa, cây cối phát triển xanh tốt và ngược lại, cây sẽ trở nên khô héo nếu không được tưới nước thường xuyên.

Tuy nhiên, một nghiên cứu mới được thực hiện bởi các chuyên gia khoa hoc thuc vat học tại Đại học bang Michigan (MSU), Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng trời mưa quá nhiều cùng với độ ẩm cao và kéo dài có thể là những nguyên nhân làm tăng nguy cơ dẫn đến các bệnh thường gặp ở thực vật.

phat hien moi trong co che gay benh o thuc vat

Nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Nature đã chỉ ra mức độ ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh ở tất cả các loài thực vật, trong đó có cả cây trồng – loài thực vật từ trước đến nay vẫn được biết đến với khả năng chống chịu được mọi điều kiện khắc nghiệt do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Các nhà khoa học phát hiện ra rằng một số loài vi khuẩn có hại có khả năng truyền trực tiếp protein vào thành tế bào của thực vật, từ đó, làm tăng lượng nước trong con đường vô bào apoplast – nơi vi khuẩn sinh sống. Chính điều này là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ở thực vật.

GS. Sheng-Yang He – chuyên gia sinh học thực vật, giám sát viên tại Viện nghiên cứu Y khoa Howard Hughes, quỹ Gordon và Betty Moore đồng thời là thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi phát hiện ra một cơ chế mới cho phép các loài vi khuẩn tấn công thực vật. Đó là: ngoài khả năng ngăn chặn hệ thống miễn dịch ở thực vật, vi khuẩn còn có thể tạo ra môi trường nước bên trong chính loài thực vật chúng ký sinh và gây bệnh”.

Bên cạnh điều kiện độ ẩm cao còn có cả một cơ chế thảm họa bệnh tật xảy ra ở thực vật.

Khái niệm này đã được biết đến từ rất lâu. Các chuyên gia ngành thực vật học đều khẳng định rằng bệnh dịch thường chỉ xảy ra ở những loài thực vật có khả năng chịu đựng kém, dễ bị mắc bệnh hoặc nếu không thì tác nhân gây bệnh tấn công thực vật phải rất nguy hiểm.

Tuy nhiên, Xiu-Fang Xin – tác giả chính của nghiên cứu lại cho biết nhận định trên thực ra chưa đầy đủ. Bà bổ sung: “Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy độ ẩm bên trong lá là yếu tố cần thiết để vi khuẩn tích nước. Đó cũng là lý do tại sao chúng tôi không ghi nhận những ca bệnh hại phổ biến ở cây trồng mỗi năm”.

“Rà soát lại những thông tin về điều kiện thời tiết của nhiều năm trước, chúng ta dễ dàng nhận thấy là đã có một khoảng thời gian độ ẩm cao được cho là nguyên nhân gây bùng phát nhiều dịch bệnh ở thực vật, trong số đó có thể kể đến dịch bệnh bạc lá ở cây táo bùng phát tại miền tây bang Michigan khoảng 10 năm trước đây. Vào năm đó, những cơn mưa kéo dài cùng với độ ẩm cao trong suốt mùa cây táo ra hoa là điều kiện lý tưởng để sâu bệnh tấn công loài thực vật này”.

Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng phát hiện của họ trong tương lai sẽ đóng góp một phần trong nỗ lực nhằm ngăn chặn dịch bệnh xảy ra ở thực vật.

“Nếu chúng ta có khả năng dự báo chính xác thời tiết thì chỉ với một số biện pháp phòng ngừa, chúng ta đã có thể ngăn chặn dịch bệnh xảy ra đối với các loài thực vật”, Xin cho biết.

Nguồn: https://khoahocthucvat.com/phat-hien-moi-trong-co-che-gay-benh-o-thuc-vat/

Venezuela: Dân bới rác tìm thức ăn, Caracas ban bố tình trạng khẩn cấp

Bang Miranda, trong đó có thủ đô Caracas, của Venezuela đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp về an ninh lương thực, khi người dân phải đào bới rác để tìm kiếm thức ăn nhằm vượt qua cơn đói.

Venezuela: Dân bới rác tìm thức ăn, Caracas ban bố tình trạng khẩn cấp
Rất nhiều người dân Venezuela phải đi bới rác để tìm kiếm thức ăn (Ảnh: Twitter)

Thống đốc bang Miranda của Venezuela, ông Henrique Capriles Radonski, hôm 20/9 đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp về an ninh lương thực . Theo thống đốc này, có tới 17% người dân của bang phải đi bới rác để tìm kiếm thức ăn vì đói.

Theo thống kê của bang Miranda – khu vực bao gồm thủ đô Caracas, 77,5% dân số nhịn đói đi ngủ do thiếu thực phẩm . Ông Henrique Capriles Radonski cho biết, chỉ 41,2% người dân Venezuela được ăn đủ 3 bữa/ngày, trong khi đó 85,3% người dân lo sợ hết lương thực.

“Chúng tôi hiện đối mặt với tình trạng khẩn cấp”, thống đốc bang cho biết trong một cuộc họp báo tại một trường học địa phương.

Ông cho biết thêm, khoảng 63% người dân Venezuela đã phải nghỉ làm sớm để đi tìm kiếm thức ăn. Trong khi đó, chỉ khoảng 10,7% người dân có thể tiếp cận được chương trình phúc lợi xã hội của chính phủ về thực phẩm dưới thời Tổng thống Nicolas Maduro.

Sắc lệnh tình trạng khẩn cấp sẽ cho phép tăng các nguồn ngân quỹ dành cho các bếp ăn trong nhà trường và chương trình trợ cấp thực phẩm cho trường học. Sắc lệnh này cũng sẽ cho phép chính phủ hành động trong việc thúc đẩy sản xuất và chế biến thực phẩm.

“Đáng thương nhất là trẻ em. Theo một cuộc khảo sát mà chúng tôi đã tiến hành trong tháng 7 và 8, 50% trẻ em phải đi ngủ đói, và gần 1/3 trẻ em chỉ được ăn trong những ngày đi học”, Thống đốc Capriles Radonski chia sẻ.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tại Venezuela bị tác động mạnh mẽ bởi giá dầu lao dốc và tình trạng này đã dẫn đến việc thiếu trầm trọng các mặt hàng thiết yếu, trong đó có thực phẩm và thuốc men.

Chính quyền của Tổng thống Maduro đã thực hiện nhiều bước đi khác nhau, chẳng hạn như ra lệnh cho quân đội kiểm soát 5 cảng như một phần của “chiến lược chiến tranh” nhằm giúp phân phối thực phẩm và thuốc men trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế .

Gần đây, ông Maduro đã bị phe đối lập chỉ trích vì đã chi trên 120 triệu USD để chủ trì Hội nghị thượng đỉnh Phong trào Không liên kết lần thứ 17. Phe đối lập đang tìm cách tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, trong đó các công dân sẽ được hỏi liệu ông Maduro có nên bị hạ bệ vào cuối năm nay hay không.

Nguồn: https://anninhluongthuc.com/venezuela-dan-boi-rac-tim-thuc-caracas-ban-bo-tinh-trang-khan-cap/

Cao Bằng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

Nông nghiệp bền vững: Tỉnh Cao Bằng đã và đang triển khai các giải pháp hình thành nền nông nghiệp hàng hóa; có giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao; giảm nghèo bền vững. Mục tiêu tăng trưởng bình quân ngành nông nghiệp tỉnh từ nay tới năm 2020 là 4%/năm; ước chiếm tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế là 19,5%; xây dựng được 10 mô hình sản xuất nông nghiệp giá trị gia tăng cao.

Tỉnh phấn đấu đến năm 2020, có ít nhất 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới, với mức thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 25 triệu đồng (tăng gấp 1,7 lần so với năm 2015).

cao bang phat trien nong nghiep theo huong san xuat hang hoa

Tỉnh ủy chỉ đạo các địa phương chủ động rà soát, xác định lợi thế, thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp để có định hướng chỉ đạo phat trien nong nghiep phù hợp. Duy trì và sử dụng hiệu quả 30.000 ha đất trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả sử dụng đất; phát triển khoảng 1.000 ha giống lúa đặc sản, lúa thuần chất lượng cao trở thành hàng hóa. Khuyến khích sử dụng các giống ngô lai, giống chuyển gen năng suất, chịu hạn cao để đáp ứng đủ nguyên liệu cho chế biến và chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Duy trì và phát triển diện tích cây trồng hàng hóa chủ lực của tỉnh như thuốc lá, mía, sắn…

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng quy mô về số lượng và nâng cao chất lượng các sản phẩm đã có trên thị trường; tận dụng hiệu quả diện tích mặt nước hiện có để nuôi trồng thủy sản; bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng hiện có gắn với phát triển du lịch sinh thái; nhân rộng mô hình kiểm soát, quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi, áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, ISO, HACCP…

* Đà Nẵng thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy kinh tế tập thể

Thành phố Đà Nẵng hiện có 119 hợp tác xã (HTX), tổng vốn điều lệ theo đăng ký gần 114 tỷ đồng, tổng vốn kinh doanh hơn 259 tỷ đồng, thu hút 26.489 thành viên và giải quyết việc làm cho 31.500 lao động. Năm 2015, kinh tế HTX ở Đà Nẵng đạt lợi nhuận gần chín tỷ đồng, qua phân loại có gần 45% số HTX đạt khá giỏi, 47,6% số HTX trung bình và 7,6% số HTX yếu.

Để tiếp tục phát triển kinh tế tập thể, thành phố đề ra mục tiêu phát triển đa dạng loại hình HTX, tổ hợp tác thuộc nhiều lĩnh vực, ngành nghề, góp phần hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm, thu hút đông đảo thành viên HTX và mọi tầng lớp nhân dân tham gia; đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, phát triển dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phát triển cộng đồng, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Liên minh HTX thành phố tập trung bám sát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nghị quyết của Thành ủy, kế hoạch của UBND thành phố, triển khai hiệu quả đề án “Phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016-2021”; trong đó chú trọng xây dựng mô hình HTX kiểu mới, đẩy mạnh đào tạo nghề cho thành viên HTX, giới thiệu việc làm cho người lao động; sử dụng hiệu quả Quỹ hỗ trợ phát triển HTX…

Giai đoạn 2016-2021, thành phố phấn đấu mỗi năm thành lập mới từ 10 đến 15 HTX, đào tạo nghề cho 200 đến 250 thành viên và xây dựng 10 HTX điển hình tiên tiến. Đến năm 2021, thu hút khoảng 50 nghìn thành viên tham gia HTX và tổ hợp tác, tạo việc làm cho 55 nghìn lao động.

Nguồn: https://nongnghiepbenvung.org/cao-bang-phat-trien-nong-nghiep-theo-huong-san-xuat-hang-hoa/

Kỹ thuật nhân giống cây bằng phương pháp giâm cành ở Malaysia

Khoa học thực vật: 1.Giâm cành trong điều kiện phun sương tự động

ky-thuat-nhan-giong-cay-bang-phuong-phap-giam-canh-o-malaysia

Phương pháp này do nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu rừng Malaixia thực hiện, tiến sỹ Darus Ahmad chỉ đạo (1992). Kết quả đạt được từ 90 đến 100% cành giâm phát triển rễ. Phương pháp này được áp dụng thành công trong nhân giống nhiều chủng cây trồng và cây hoa màu ở Malaixia, như: Dipterocarpus baudii, Hopea odorata, Shorea bracteolata, s.lepprooida, s.ovaỉis, s.parviflora, s. plaíyclados, s. singkanang, Alatonia angersilloba và Endosperum mallaccense.

Cành giâm thu gom từ cây chưa trưởng thành (cây dưới 1 Năm tuổi) hoặc các chồi từ gốc cây trên 10 Năm tuổi. Để duy trì gen cơ bản, cành giâm phải dược thu gom theo từng loài ở các nơi khác nhau. Sau đó đem trồng trong bao chất dẻo đặt trong vườn ươm là nguồn nhân giống.

Thu các cành khoảng 10 cm có 3 lá phát triển, dùng dao sắc cắt tỉa đốt nghiêng. Với các loài lá to phải cắt bỏ bớt nửa lá (như loài E. maỉlaccense).

Ngâm đầu vừa cắt trong bột Seradix (0,8% IBA) rồi trồng ngay vào môi trường tạo rễ là cát sông sạch. Dùng tấm nhựa dẻo che chắn mối trường nhân giống để duy trì độ ẩm khoảng 80 đến 90%, nhiệt độ 25°c đến 28°c. Dùng vải nhựa màu xanh có độ che mát 75% phủ trên để tránh ánh nắng mặt trời gay gắt.

Dùng cơ cấu phun mù tự động mỗi lần phun 30 giây, cách nhau 5 phút. Định đặt thời gian phun tù 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều.

Sau 4 đến 6 tuần rễ sẽ phát triển tốt.

Cây đã phát triển rễ được chuyển sang trồng trong bầu nhựa dẻo đổ đầy đất rừng và cát sống theo tỷ lệ 1 : 1 đặt trong hộp gỗ cứng, che chắn bằng tấm nhựa dẻo và vải nhựa màu xanh. Dùng bình nhựa thủ công tưới trong ngày, cách 2 giờ tưới 1 lần, trong vòng 4 tuần. Sau đó giảm số lần tưới xuống 3 lần/ngày và tháo vải che mát ra. Sau 4 tuần tiếp theo cây sẽ bén rễ chắc, khi thấy cây đủ cứng cáp thì đem trồng chính thức.

2 Nhân giống thực vật bằng các cành giâm

Các chủng được nhân giống ra rễ thành công gồm Dipteroccirpus chartaseus (ỐO – 80%), Shorea bracteoỉata (100%), Anisoptera scaphuỉa (80%) và Shorea leprosula khi được xử lý với hỗn hợp IBA và bột talc ở các nồng độ 100 ppm, 500 ppm và 2.000 ppm (theo Srivastava và Manggil, 1981).

Nền nhân giống có thể là bêtỏng rộng 1,2 m, dài 3,35 m và sâu 0,4 m, đáy nghiêng về tâm để thoát nước; hoặc dùng hộp gỗ 0,6 m X 0,6 m X 0,2 m (sâu) có lỗ thoát nước ở đáy và đặt trên nền bêtông. Dùng khung gỗ bao quanh các hộp gỗ hoặc bêtông. Dùng các tấm gỗ có kích thước phù hợp để ngân nền nhân giống thành từng ỏ để dễ dàng xử lý và kiểm tra hormon trong quá trình thử nghiệm. Dừng chất dẻo trong suốt bao quanh và đậy trên làm mái che, đắp bao tải đay để duy trì độ ẩm và mức thoát hơi.

Môi trường tạo rễ gồm 45,5% sỏi, 31,0% cát thô, 18,1% cát vàng, 3,8% cát kích thước trung binh và 1,6% cát mịn, lớp cuối cùng là các mẩu vụn granit.

Cành giâm lấy từ thân chính là các cành đã phát triển của cây non gieo trồng từ hạt trong nhà kính. Các chủng và tuổi cây nhu sau: Anisoptera scaphula (27 tháng), Shorea bracteolata (12 tháng), Shorea leprosula (10 tháng) và Diplerocarpus chartaceus (10 tháng).

Cành giâm lấy đài khoảng 10 cm có một số lá đã phát triển, cắt bỏ bớt nửa diện tích lá, cắt bỏ chổi gốc, để lại các chồi bên khoẻ mạnh, chủ lực. Dùng kéo cắt tỉa đầu gốc, cắt vát góc để tăng diện tích mặt hấp thu hormon, tạo độ sần cho rỗ phát triển tốt. Ngay sau khi cắt, ngâm đầu cắt vào hỗn hợp bột talc và axit indolebutyric với các nồng độ 100 ppm, 500 ppm và 2.000 ppm. Cắm nghiêng cành giâm vào môi trường giâm, ấn nhẹ quanh gốc giâm.

Sau khi trồng, tưới đẫm nưóc ngay quanh gốc, đảm bảo độ ẩm thích hợp trong vùng rễ. Dùng bình phun thủ công phun mù. Tuần đầu phun nước 30 phút một lần, mỗi lần phun 5 phút, bắt đầu từ 7 giờ 30 phút sáng đến 6 giờ chiều. Hai tuần tiếp theo mỗi giờ phun một lần 5 phút từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Sau đó cứ 2 giờ phun một lần 5 phút. Phủ bao tải đay ẩm lên để duy trì độ ẩm từ 66% đến 68% trong các ngăn trồng, nhiệt độ duy trì thấp nhất trong mối trường là 23°c và cao nhất là 28°Cđể rễ phát triển. Sau 3 tháng chuyển cành giâm trồng trong các bầu nilon. Sau 5 tháng có thể chuyển trồng chính thức.

Tỷ lệ phát triển rẽ thành công cao nhất là loài Anisoptera scaphula được xử lý trong hỗn hợp axit indolebutyric 80% ở nồng độ 1.000 ppm. Rễ phát triển tốt nhất khi xử lý ở nồng độ 2.000 ppm. Ở gốc của các cành giâm phát triển các thể sần và chồi non cũng xuất hiện rất sớm.

Với loài Shorea bracteolata tỷ lệ phát triển rễ đạt trung bình 91,2%, chồi non xuất hiện vào giữa tuần thứ 6 và thứ 7 khi chuyển sang trồng trong bầu ni lon. Rễ phát triển nhanh và đều hơn khi xử lý với IBA ở nồng độ 500 ppm so với khi xử lv ở 1.000 ppm và 100 ppm.

Với loài Shorea leprosuỉa khi xử lý ở nồng độ 2.000 ppm và 1.000 ppm chỉ cho tỷ lộ phát triển rễ ở mức 18%.

Với loài Dipterocarpus chartaceus, sau khi trồng trong khoảng từ tuần thứ 4 đến tuần thứ ố hầu hết các cành giâm đã cho ra chồi non. Tỷ lệ cành giám ra rẽ trong trường hợp này đạt 32%. Khi xử lý với dung dịch axit indolebutyric nồng độ 100 ppm cành giâm phát triển rễ rất tốt.

Cành giâm đã ra rễ chuyển sang trồng trong bầu nilon chứa chất dinh dưỡng thông thưòng đặt trong bóng râm nhà kính, tưới nước thường xuyên để tránh héo lá. Sau 8 đến 10 tháng chuyển đi trồng chính thức.

3. Nhân giống thực vật một số loài khác

Cành giâm lấy từ các chồi trưởng thành của loài Ạgathis dammara và Pagraea frangrans. Với các loài Shorea talura, Anisoptera sacphula, Podocarpus imbricatus và Vatica wallichìi lấy các chồi của câv chưa trưởng thành. Tất cả đều cho kết quả ra rễ tốt (Momese, 1976).

Đổ đầy cát thô sạch vào các hộp 1 m X 5 m X 0,6 m (sâu). Lắp đặt hệ thống phun mù tự động cách 5 phút phun một lần 30 giây, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Môi trường cần duy trì ở mức cường độ ánh sáng thấp (10%) và nhiệt độ ổn định từ 25°c đến 28°c trong luống trồng. Dùng vải nhựa màu xanh che phủ để có độ râm mát 50%.

Cành giâm lấy dài 10 đến 20 cm, có một số đốt và lá đã trưởng thành, cắt ngắn bớt lá, lấy từ các cây đã trưởng thành, lấy các chồi gần gốc của cây gieo hạt. cắt vỏ theo chiều dài phía đối diện với lá và chồi nách làm mô dẫn cho nước hấp thu dễ dàng. Đem trồng cành vào môi trường phát triển rễ cho ngập hết phần lá đã tách bỏ (ngập cả phần cuống lá và chồi nách).

Kết quả cho thấy các cành giâm lấy từ cây trưởng thành đều không ra rễ. Song các cành lấy từ loài Agathis dammara và Fragraea fragrans và cành của cây chưa trưởng thành của loài Podocarpus imbricatus lại cho rễ phát triển thành công.

Các chồi ngắn của các cây đã trưởng thành và cây gieo từ hạt của loài Shorea talura, Anisoptera scaphula, Vatica wallichii và Agathis dammara cũng cho kết quả ra rễ tốt.

Khi chồi nách phát triển thành cành non, cây được chuyển sang trồng vào chậu. Duy trì thường xuyên công việc chăm sóc như với cây đã ra rễ. Khi cây có chiều cao 20 đến 25 cm (sau 1 năm) thì đưa đi trồng chính thức.

Nguồn: https://khoahocthucvat.com/ky-thuat-nhan-giong-cay-bang-phuong-phap-giam-canh-o-malaysia/

Hội thảo “Đánh giá tiềm năng phát triển cây Sacha Inchi (Sachi) tại Việt Nam”

Hiep hoi nganh nong nghiep: Trong thời gian qua Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã phối kết hợp với hội Sinh lý thực vật, hội Sinh Vật học, Viện sinh học Nông nghiệp, khoa Công nghệ Sinh học có tiến hành nghiên cứu khảo nghiệm giống Sacha Inchi (Sachi) giống cây trồng mới tại khu thực nghiệm của Học Viện Nông nghiệp Việt Nam.

hoi thao danh gia tiem nang phat trien cay sacha inchi sachi tai viet nam

Đồng thời với việc tiến hành khảo nghiệm tại Học Viện, Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã cùng với Tập đoàn Tâm Hoàng Việt tiến hành khảo nghiệm ở các vùng khác nhau trong phạm vi toàn quốc. Thông qua việc tiến hành khảo nghiệm, cũng như đi sâu nghiên cứu với các sản phẩm của cây trồng này bước đầu đã xác định được cây Sacha Inchi có nhiều triển vọng phát triển được ở Việt Nam.

Để đánh giá tiềm năng phát triển của cây Sacha Inchi, Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tổ chức Hội thảo “Đánh giá tiềm năng phát triển cây Sacha Inchi (Sachi) tại Việt Nam” vào ngày 21/08/2015 tại Học Viện Nông nghiệp Việt Nam.

Nguồn: https://hiephoinongnghiep.com/hoi-thao-danh-gia-tiem-nang-phat-trien-cay-sacha-inchi-sachi-tai-viet-nam.html

Nuôi “chim khổng lồ” quan trọng nhất là khâu nào?

Nong nghiep ben vung: Chim đà điểu là loài dễ nuôi, tuy nhiên để đạt hiệu quả cao nhất, người nuôi cần thiết kế chuồng và chế độ cho ăn hợp lý.

Nhiều người nuôi chim đà điểu hiện nay chỉ chăn nuôi theo phương pháp tự tìm tòi qua sách báo, hoặc kinh nghiệm tự đúc kết qua nhiều năm. Đối với những người mới nuôi lần đầu tiên thì hầu hết chưa biết nhiều về kỹ thuật, nên dễ bị thất bại, hoặc tốn kém khá nhiều chi phí đầu tư.

nuoi chim khong lo quan trong nhat la khau nao

Để tìm hiểu vấn đề này, PV Báo Dân Việt đã “đột nhập” một trang trại nuôi loài chim khổng lồ tại Trung tâm giống đà điểu Ninh Hòa (Khánh Hòa). Đây là một trang trại quy mô nhất của tỉnh đang nuôi thành công loài chim này. Anh Ngô Văn Tưởng – Trưởng phòng kỹ thuật Trung tâm giống đà điểu Ninh Hòa cho biết, chim đà điểu là loài dễ nuôi, sức đề kháng cao nhưng để chim phát triển tốt, người nuôi cần chú ý một trong những khâu quan trọng nhất đó là cho ăn và kỹ thuật làm chuồng.

Theo anh Tưởng, nên kết hợp 2 loại thức ăn đó là thức ăn tinh (hỗn hợp) và các loại rau (thức ăn tươi) là tốt nhất. Đà điểu dưới 4 tháng tuổi thức ăn tươi được cắt nhỏ khoảng 1cm, 4 tháng trở lên cắt từ 2- 3cm. Đối với đà điểu dưới 70kg phân ra cho ăn nhiều lần khoảng 2- 3 lần/ngày, đà điểu trên 70kg cho ăn 1 lần/ngày. Riêng đối với thức ăn tinh nên phân chia trọng lượng cho ăn theo tháng tuổi; đà điểu 1 – 2 tháng tuổi cho ăn 200g/ngày, 3 tháng tuổi 600g/ngày, 4 tháng tuổi từ 900 – 1.000g/ngày, 5 tháng là 1.100g/ngày, 6 tháng cho ăn 1.200g/ngày, từ 7 tháng trở đi cho ăn từ 1.300 – 1.400g/ngày. Thời điểm cho ăn tốt nhất là sáng 7h 30 – 8 giờ, chiều từ 15 – 18h, giai đoạn này đà điểu ăn mạnh nhất.

nuoi chim khong lo quan trong nhat la khau nao 5
Khu nuôi đà điểu hơn 1 tháng tuổi

Anh Tưởng cho biết thêm, khâu làm chuồng là một yếu tố không kém phần quan trọng. Chuồng phải làm ở nơi cao ráo, nền chuồng thiết kế có độ nghiêng từ 10 – 15 độ khi gặp trời mưa dễ thoát nước, chiều dài chuồng từ 60 – 70m, ngang từ 5- 7m, xung quanh được bao bọc bởi lưới B40, chiều cao lưới thiết kế 1,5m. Khi đà điểu ở giai đoạn nhỏ nên đưa lưới sát mặt đất, đến giai đoạn trên 4 tháng tuổi trở đi nâng lưới lên cho phù hợp. Với cách làm này đã giúp trang trại đà điểu vừa tiết kiệm chi phí và tăng thu nhập.

Nguồn: https://nongnghiepbenvung.org/nuoi-chim-khong-lo-quan-trong-nhat-la-khau-nao/

Những thành tựu và hướng đi của Công nghệ sinh học vàng (Yellow Biotechnology)

Công nghệ sinh học vàng (Yellow Biotechnology) đã được đề cập đến như là lãnh vực công nghệ sinh học trên đối tượng các côn trùng – tương tự như các khái niệm công nghệ sinh học xanh (đối tượng là thực vật) và công nghệ sinh học đỏ (đối tượng là động vật). Các hoạt chất hay các gen ở côn trùng được mô tả và sử dụng để nghiên cứu hoặc sẽ được ứng dụng trong nền nông nghiệp và y học.

Công nghệ sinh học vàng (Yellow Biotechnology) đã được đề cập đến như là lãnh vực công nghệ sinh học trên đối tượng các côn trùng – tương tự như các khái niệm công nghệ sinh học xanh (đối tượng là thực vật) và công nghệ sinh học đỏ (đối tượng là động vật). Các hoạt chất hay các gen ở côn trùng được mô tả và sử dụng để nghiên cứu hoặc sẽ được ứng dụng trong nền nông nghiệp và y học.

Công nghệ sinh học vàng (Yellow Biotechnology) đã được đề cập đến như là lãnh vực công nghệ sinh học trên đối tượng các côn trùng  – tương tự như các khái niệm công nghệ sinh học xanh (đối tượng là thực vật) và công nghệ sinh học đỏ (đối tượng là động vật).  Trong lãnh vực này, các hoạt chất hay các gene ở côn trùng được tìm hiểu, khái thác sử dụng để nghiên cứu hoặc ứng dụng trong lãnh vực nông nghiệp và y học.

Các nhà khoa học tại Viện Max Planck về Hóa học Sinh thái có trụ sở tại Jena (Đức), hiện đang sử dụng một quy trình để nghiên cứu sinh thái học về côn trùng. Họ nghiên cứu các gene chức năng trong ấu trùng sâu bằng các kỹ thuật gene với việc sử dụng các RNA can thiệp (RNAi). Các RNA này được cảm ứng bằng cách nuôi ấu trùng với các cây đã được nhiễm virus. Phương pháp trên có tên gọi là VDPS giúp tạo ra lượng mẫu lớn hơn khi so với việc sử dụng các thực vật chuyển gene.

Độc tố tự nhiên chống lại động vật ăn cỏ bao gồm hơn 200.000 loài khác nhau. Côn trùng sống phụ thuộc vào các loại thực vật và lấy thực vật làm thức ăn chính. Các loài côn trùng đã tìm cách thích nghi với sự trao đổi chất phù hợp cho quá trình tiến hóa cho chúng. Do đó để tự bảo vệ trước sự bóc lột của côn trùng, thực vật sản sinh ra nhiều độc tố chống lại động vật ăn cỏ và côn trùng dù rằng điều này nhiều khi vẫn chưa hoàn toàn hiệu quả.

Các hoạt động nhằm thực hiện các quá trình giải độc đối với các độc tố được quyết định bởi nhiều gene khác nhau. Côn trùng phát triển các cơ chế thích ứng một cách khá nhanh nhờ sự đa dạng, phong phú trong các quần thể, nhờ đó chúng hiện diện hầu hết trong các môi trường sống trên hành tinh này.

Những đặc điểm trên đây càng làm cho các nhà khoa học quan tâm hơn trong việc nghiên cứu hệ sinh thái học côn trùng. Một loài côn trùng cụ thể thường tấn công những loài thực vật nào? Những độc tố hoặc các hoạt chất tín hiệu nào đã tham gia? Có xuất hiện loài côn trùng thích nghi với một loài thực vật cụ thể hay chưa? hay chỉ là một loài sinh vật có vùng sinh thái rộng?

Việc hiểu rõ về các gene giải độc của côn trùng đang là một chủ đề nghiên cứu quan trọng. Một thành công đầu tiên trong lãnh vực này đã được báo cáo nhờ vào việc sử dụng các kỹ thuật RNAi.

Các nhà khoa học tại Viện Sinh thái hóa học Max Planck đã nghiên cứu một loại độc tố thực vật quen thuộc là nicotine. Loài Nicotiana attenuata (thuốc lá coyote) sản xuất ra nicotine như là một chất phòng thủ chống lại động vật ăn cỏ. Tuy nhiên, nó không có bất kỳ tác dụng độc hại trên ấu trùng trú ngụ trong cây thuốc lá Manduca sexta. Các con côn trùng này có khả năng kháng lại các Alkaloid do có mang gene mã hóa enzyme trao đổi nicotine. Những gene này được gọi là gen CYP, các gen này có liên quan đến sự hình thành của các enzyme cytochrome P450.

Sự biểu hiện của những gene này ở côn trùng tăng lên ngay sau khi ấu trùng tiếp xúc với nicotine trong thức ăn của chúng. Ian Baldwin và nhóm nghiên cứu của ông đã xác định trình tự DNA của gene CYP trong Manduca sexta và từ đó làm mất chức năng của các gen này nhờ sử dụng công nghệ RNAi.

Sử dụng gene thực vật bất hoạt côn trùng thông quan RNAi: Nếu ấu trùng ăn phải trên các cây này, RNA được giải phóng ra trong ruột côn trùng. Trong các thí nghiệm, RNA mạch kép có chứa các trình tự của gen côn trùng, CYP6B46, là một cytochrome P450 Oxidoreductase đặc thù cho ấu trùng Manduca sexta. Trong bước tiếp theo, RNA mạch kép được enzym phá vỡ thành các phân đoạn RNA nhỏ hơn, một phức hợp enzyme đặc biệt gọi là RISC (RNA- induced silencing complex), có mang  một số đoạn RNA, đặc biệt liên kết với ARN thông tin (mRNA) của CYP6B46 gen và tách rời với mRNA để các enzyme cytochrome P450 không được sản xuất nữa.

Các nhà nghiên cứu đã rất ấn tượng bởi tính đặc thù cao của những thí nghiệm này với sự tham gia của các RNAi. Ian Baldwin cho biết các phân tích về mRNA có liên quan chặt chẽ với gen CYP6 chỉ cho thấy rằng chỉ có các gen CYP6B46 được bất hoạt. Điều này có nghĩa rằng không có một thiệt hại  nào thêm từ các quy trình do tính đặc hiệu rất cao.

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa rõ ràng các bước tiến hành như thế nào trong cơ chế RNAi – từ việc sản xuất RNA mạch kép trong tế bào thực vật thông qua sự hấp thu trong ruột côn trùng cho việc làm bất hoạt các gen giải độc – được thực hiện để tạo ra một hiệu quả tối đa. Do đó, các quy trình gián tiếp từ thực vật RNAi có thể sẽ nâng cao quả hơn hơn nữa.

Nguồn: https://congnghesinhhoc.co/nhung-thanh-tuu-va-huong-di-cua-cong-nghe-sinh-hoc-vang-yellow-biotechnology.html

Cách phân biệt cà chua thường và cà chua biến đổi gene

Bao ve thuc vat: Bổ đôi quả cà chua ra, bạn sẽ thấy cà chua bình thường không mọng đỏ đều như cà chua đã biến đổi gene.

Trang whydontyoutrythis cho biết, có 2 cách dễ dàng để phân biệt cà chua bình thường và cà chua đã biến đổi gene.

1. Nhìn vào phần lõi giữa cà chua

Cà chua biến đổi gene thường chín một cách đồng đều, màu sắc đậm hơn hẳn so với cà chua tự nhiên.

Khi bổ đôi ra, phần lõi giữa của quả cà chua bình thường nhiều hơn và có màu nhạt hơn, chứ không đỏ đều như cà chua đã biến đổi gene (GMO).

cach phan biet ca chua thuong va ca chua bien doi gene
Cà chua bình thường (bên phải) có phần lõi nhiều và không đỏ đều như cà chua biến đổi gene (bên trái).

2. Nhãn dán GMO

Một cách nữa giúp bạn không mua phải cà chua hay các sản phẩm biến đổi gene khi đi siêu thị đó là nhìn vào nhãn dán.

  • Trái cây và rau quả được trồng theo cách thông thường (có dùng hóa chất) được dán nhãn với mã số gồm 4 chữ số.
  • Các loại trái cây và rau hữu cơ được dán nhãn với mã số gồm 5 chữ số, bắt đầu từ số 9.
  • Các loại trái cây, rau quả biến đổi gen cũng có mã gồm 5 chữ số, nhưng bắt đầu từ số 8.

Cho đến nay, việc có nên dùng các thực phẩm biến đổi gene hay không vẫn tạo nên nhiều luồng tranh cãi khác nhau. Nhiều người đứng đầu trong ngành công nghiệp thực phẩm và nhiều nhà khoa học ủng hộ thực phẩm biến đổi gene, nhưng cũng có nhiều người cho rằng GMO có hại, gây ra nhiều tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Hầu hết các quốc gia phát triển không xem thực phẩm biến đổi gene là an toàn. Nhiều nước châu Âu như Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary… có những hạn chế đáng kể hoặc cấm hoàn toàn GMO. Trong khi đó ở Mỹ thực phẩm biến đổi gene chiếm tới hơn 80%.

Nguồn: http://www.baovethucvat.org/cach-phan-biet-ca-chua-thuong-va-ca-chua-bien-doi-gene/

Những ý tưởng quân sự siêu lạ liên quan tới động vật

Bom nguyên tử năng lượng gà, bồ câu dẫn đường tên lửa, những quả bom dơi hay chuột biến đổi gen rà bom là những dự án quân sự liên quan đến động vật độc nhất vô nhị.

1. Bom nguyên tử năng lượng gà

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 1

Năm 1957, thời kỳ đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh, quân đội Anh ấp ủ kế hoạch chôn hàng loạt đầu đạn hạt nhân ở khắp nước Đức để phòng thủ trong trường hợp quân đội Liên Xô tấn công châu Âu từ phía Đông. Tuy nhiên, cái khó là nhiệt độ mùa đông ở vùng đồng bằng miền Bắc Đức lại quá lạnh khiến các thiết bị điện tử của bom nguyên tử không hoạt động được.

Do đó, các nhà khoa học quân sự kỳ cựu nhất phải vắt óc nghĩ cách khắc phục khó khăn về thời tiết. Cuối cùng, họ đưa ra một siêu ý tưởng lạ đời chưa từng có tiền lệ. Giải pháp chính là những chú gà, họ tuyên bố. Theo đó, các nhà khoa học giải thích, gà sẽ tạo ra nhiệt độ cơ thể đủ để giữ ấm cho các mạch điện tử. Chỉ cần cung cấp thức ăn để gà sống tốt, những quả bom nguyên tử cũng sẽ chắn chắn hoạt động. Tuy nhiên, cuối cùng, dự án bị hủy bỏ, không phải vì người ta cho nó là điên rồ mà vì chính phủ Anh quan ngại các hậu quả của việc kích nổ các đầu đạn hạt nhân trong lãnh thổ của đồng minh của họ.

2. Kẻ tiêu diệt bồ cầu truyền tin

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 2

Trước khi mạng lưới thông tin liên lạc đường dài được ứng dụng rộng rãi và hiệu quả, chim bồ câu đưa thư được sử dụng để làm phương tiện liên lạc và truyền tin. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, mạng lưới thông tin liên lạc và truyền tin của quân đội Anh, theo ước tính sử dụng khoảng 250.000 chim bồ câu đưa thư trên khắp các chiến trường. Những kẻ truyền tin này tỏ ra rất hữu ích trong những trường hợp không thể sử dụng radio.

Một chú chim bồ câu đưa thư được huấn luyện tốt có khả năng bay xa hơn 1.800 km với khả năng tới đích chính xác mà không tạo ra bất cứ dấu hiệu nào khiến quân địch nghi ngờ và lần ra dấu vết. Tuy nhiên, công nghệ chim bồ câu đưa thư không phải độc quyền của bất cứ đội quân nào. Tương tự Anh, quân đội Đức cũng tích cực sử dụng kẻ truyền/đưa tin hữu dụng này.

Do đó, để đối phó, quân đội Anh đưa ra ý tưởng huấn luyện chim cắt để tuần tra bờ biển và bắt bồ câu đưa thư của quân Đức. Theo đó, họ đã huấn luyện một đội quân chim cắt. Kế hoạch dường như thành công như mong đợi. Ít nhất hai chú chim bồ câu đưa thư của địch đã bị bắt sống và bị gọi đùa là “tù nhân chiến tranh”.

3. Cá heo chống khủng bố

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 3

Kể từ những năm 1960, Hải quân Mỹ đã thành lập một đội chuyên huấn luyện sinh vật biển để phục vụ trong quân đội và trong trường hợp chiến tranh. Cá heo, một loài vật thông minh dĩ nhiên không thể loại trừ khỏi danh sách huấn luyện. Theo kế hoạch, cá heo được đào tạo để dò mìn dưới nước và cảnh báo cuộc tuần tra của kẻ địch.

Tại Seattle, cá heo và sư tử biển California cũng được huấn luyện để phát hiện những kẻ xâm nhập con người. Khi cá heo phát hiện mục tiêu, nó sẽ bơi tới tàu Hải quân gần nhất để báo tin còn sư tử biển sẽ tiếp cận kẻ không mời mà đến với một đai kim loại và đeo nó vào chân của kẻ xâm nhập.

Liên Xô cũng được cho là đã thành lập một đơn vị quân đội để huấn luyện các loài động vật có vú phục vụ các mục đích tương tự. Trong đó, cá heo được huấn luyện để tấn công các tàu của kẻ địch bằng cách phân biệt âm thanh giữa các cánh quạt của con tàu. Một vài năm trước đây, đội quân cá heo được bán cho Iran để triển khai tại vùng Vịnh Péc-xích và được gọi vui là “lính đánh thuê”.

4. Dự án tia X – Bom dơi

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 4

Trong Chiến tranh thế giới II, các nhà khoa học quân sự ở cả hai phía đối địch chạy đua với nhau để tìm kiếm những phương thức chiến tranh vượt trước đối thủ, tạo ra lợi thế cho mình. Lúc này, quân đội Mỹ nảy ra một ý tưởng siêu lạ đời, chế tạo bom dơi. Dự án được gọi với cái tên tia X.Được phát triển bởi Lytle S. Adams và chính thức được chấp Tổng thống Roosevelt ủng hộ, dự án bom dơi bao gồm một quả bom khổng lồ với ruột chứa đầy “dơi ngủ đông”.

Theo dự án, ở tại một độ cao nhất định, quả bom sẽ được mở bung ra và hàng nghìn con dơi bị đánh thức bởi không khí ấm, sẽ tràn ra ngoài.Mỗi con rơi mang theo khoảng 17 gam bom napalm được gắn trên cơ thể nó. Khi dơi hạ cánh trên cây và những ngôi nhà ở Nhật Bản, các quả bom nhỏ sẽ thiêu trụi mọi thứ trong biển lửa. Dự án này từng được xem là một trong những chiến lược chính của quân đội Mỹ và hàng nghìn chú dơi Mexico đã được nhập khẩu để phục vụ cho kế hoạch này. Tuy nhiên, cuối cùng dự án lại bị hủy bỏ vì số tiền để chi cho một quả bom dơi khổng lồ hơn hẳn chi phí tạo ra một quả bom nguyên tử.

5. Chuột biến đổi gen rà bom

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 5

Theo ước tính, có ít nhất 70 quốc gia trên thế giới vẫn có bom mìn – di sản của các cuộc chiến tranh trong quá khứ – bị chôn vùi dưới lòng đất. Điều này tạo ra những nguy hiểm lớn đối với con người. Công việc rà phá bom mìn còn sót lại tại các vùng chiến sự cũ được cho là rất tốn kém và tiềm ẩn các mối nguy hiểm chết người. Do đó, nhiều quốc gia sử dụng động vật cho công việc này. Thậm chí, Mông Cổ còn sử dụng 2.000 con khỉ để dò mìn. Tuy nhiên, khỉ vẫn khá nặng đủ để vô tình kích hoạt một quả bom.

Charlotte D’Hulst, một nhà khoa học đang nghiên cứu chuột biến đổi gen có khả năng giúp con người dò phá nhanh chóng bom mìn trong khu vực rộng khoảng 300 m2 chỉ trong một vài giờ. Những con chuột biến đổi gen có độ nhạy cảm mùi gấp 500 lần so với chuột bình thường và nhỏ đủ để không vô tình kích hoạt những quả bom phát nổ. Nhờ đó, hàng nghìn sinh mạng sẽ có khả năng được cứu sống.

6. Đội chiến binh chó Ngao

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 6

Dù ngày nay, chó được sử dụng rộng rãi trong các cuộc chiến tranh, song chúng không thực sự là các chiến binh. Thời Hy Lạp cổ đại thì khác, các chiến binh chó đã từng được tung ra những chiến trường khốc liệt nhất.

Vào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, thành phố Magnesia của Hy Lạp bổ sung chó Ngao đã qua huấn luyên quân sự vào biên chế quân đội. Những chiến binh chó này có thể nặng tới 113 kg. Chúng được đưa lên hàng tiên phong với mục đích phá vỡ thế trận của kẻ địch, khiến chúng trở nên hỗn loạn để binh sĩ phía sau tận dụng thời cơ tiêu diệt quân thù. Ngoài ra, những chiến binh chó còn được trang bị áo giáp để phòng vệ trên chiến trường ác liệt.

7. Hóa chất thu hút ong

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 7

Năm 1994, Không quân Mỹ bắt đầu triển khai sáng kiến phát triển các loại vũ khí không gây sát thương để sử dụng trong chiến tranh. Hóa chất là một trong những loại vũ khí như vậy. Tuy nhiên, theo dự án, các loại hóa chất sẽ không có khả năng giết hại quân địch mà chỉ gây ra những phiền phức và khó chịu cho họ.

Chẳng hạn, những qủa bom hóa chất chứa đầy pheromone có khả năng thu hút mạnh kiến hoặc ong bắp cày để chích, đốt quân địch. Một số bom hóa chất khác có khả năng khiến quân địch dính bệnh hôi miệng hoặc lập tức thở ra mùi hôi khó chịu. Một loại hóa chất khác chứa các thành phần kích dục mạnh khiến người bị nhiễm nó có khả năng gây ra “các hành vi tình dục đồng tính”. Ngoài ra, Không quân Mỹ từng bị đồn chế tạo bom gay.

8. Bom rắn

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 8

Bất cứ nhà sử học nào cũng đều sẽ phải công nhận Hannibal là một vị tướng tài ba, lỗi lạc. Các chiến lược của ông đóng vai trò then chốt và quyết định trong các cuộc chiến Punic. Trong đó, Tướng Hannibal có lẽ nổi tiếng nhất với chiến tích thống lĩnh đội quân xâm lược bao gồm cả voi chiến vượt qua dãy núi Alps, được cho là bức tường không thể vượt qua nổi để tấn công thành Rome từ trong nội địa, tạo ra yếu tố bất ngờ nhằm quyết định chiến thắng.

Tuy nhiên, đó không hẳn là chiến lược sáng tạo nhất của Hannibal. Nhiều năm sau Chiến tranh Punic, Tướng Hannibal lại cầm quân chống lại đội quân của Eumenes II, vua của Pergamon. Đây là cuộc chiến ở nước ngoài và Tướng Hannibal có nhiều quân hơn. Song ông vẫn có chuẩn bị trước với một chiến thuật đáng nể. Ông tìm cách lần ra chiếc tàu chở nhà vua Eumenes II. Ngay sau khi xác định và tiếp cận được với chiếc tàu này, Tướng Hannibal lập tức ném hàng loạt bình lớn chứa đầy rắn độc lên tàu. Nhà vua Eumenes II bối rối, hoảng loạn và quay thuyền bỏ chạy. Các chiến thuyền còn lại của vua Eumenes II như rắn mất đầu cũng tan tác rút lui.

9. Bồ câu dẫn đường tên lửa

Nhung y tuong quan su sieu la lien quan toi dong vat hinh anh 9

Một ý tướng siêu lạ đời trong chiến tranh thế giới thứ II là dự án Bồ câu. Đây là kế hoạch quân sự để đặt chim bồ câu đã được huấn luyện trước vào bên trong chóp hình nón ở đầu tên lửa nhằm hướng dẫn nó nhắm trúng các mục tiêu. Đây là thời kỳ trước kỷ nguyên tên lửa dẫn đường và do đó, dự án Bồ câu rất thu hút sự chú ý của quân đội Mỹ.

Theo kế hoạch, người ta sẽ chế tạo chóp hình nón chuyên biệt ở đầu tên lửa Pelican. Mỗi chóp hình nón có 3 ngăn. Mỗi ngăn sẽ được đặt một chú bồ câu đã được huấn luyện trước để nhận biết các mục tiêu và một màn hình hiển thị đường đi của tên lửa. Khi tên lửa trên đường tiếp cận mục tiêu, bồ cầu sẽ dùng mỏ chạm vào màn hình và điều khiển tên lửa đi đúng hướng. Tuy nhiên, dự án thất bại không chỉ vì tính phi thực tế của nó mà còn vì kinh phí quá khủng.

Nguồn: https://biendoigen.com/nhung-y-tuong-quan-su-sieu-la-lien-quan-toi-dong-vat.html